A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tản mạn về ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh

Tản mạn về ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh Rất nhiều người Hà Tĩnh khi mới ra Bắc vào Nam, nhất là ra Hà Nội hay vào thành phố Hồ Chí Minh để học tập hoặc lập nghiệp, thường ngượng ngùng, lúng túng trong giao tiếp bởi cái “tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để” của họ làm cho người được đối thoại nhiều khi không hiểu. Ấy là những người đó khi nói, mới chỉ có giọng nói và ngữ điệu là “Hà Tĩnh”, còn từ dùng thì...

Tản mạn về ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh




Rất nhiều người Hà Tĩnh khi mới ra Bắc vào Nam, nhất là ra Hà Nội hay vào thành phố Hồ Chí Minh để học tập hoặc lập nghiệp, thường ngượng ngùng, lúng túng trong giao tiếp bởi cái “tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để” của họ làm cho người được đối thoại nhiều khi không hiểu. Ấy là những người đó khi nói, mới chỉ có giọng nói và ngữ điệu là “Hà Tĩnh”, còn từ dùng thì chủ yếu là từ phổ thông. Còn nếu họ nói “đặc sệt” “tiếng Hà Tĩnh”, tức là cả ngữ điệu và từ dùng đều là ngôn ngữ địa phương, thì chắc rằng người nghe sẽ ngớ ra cứ như nghe một thứ ngôn ngữ không phải là tiếng Việt vậy. Lúng`túng là chuyện thường tình khi mà giao tiếp không suôn sẻ do ngôn ngữ bất đồng. Nhưng liệu có phải ngượng ngùng, xấu hổ đến nỗi cho rằng cái mô tê răng rứa là ngô nghê quê mùa?

Ngôn ngữ nào, kể cả những ngôn ngữ địa phưong có ít nhiều dị biệt so với ngôn ngữ chính thống được sử dụng trong một quốc gia, cũng đều có cái văn hóa riêng của nó. Ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh`nói riêng và tiếng miền trung của các tỉnh khu 4 cũ (Thanh Hoá , Nghệ An, Hà Tĩnh, Qủang Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) nói chung`cũng vậy. Đấy là chưa kể hiện đang có nhiều nghiên cứu khẳng định, phương ngữ Hà Tĩnh là gốc rễ của tiếng Việt, mới là ngôn ngữ thuần Việt cũng như Việt Thường mới là cái nôi của người Việt cổ, là nơi hình thành Nhà nước đầu tiên của Việt Nam, có kinh đô được xây dựng trên núi Ngàn Hống, tức là dãy Hồng Lĩnh, mà các di chỉ khảo cổ được tìm thấy, các di tích còn lưu giữ trên núi Ngàn Hống có thể chứng minh cho điều đó.

Có thể nói rằng, phương ngữ Hà Tĩnh về mặt cấu trúc, phân chia nhánh ngành, lang lớp, khái niệm bao quát và khái niệm chi tiết v.v. nhiều khi còn khoa học hơn cả ngôn ngữ phổ thông mà ta đang sử dụng. Xin lấy một ví dụ. Nếu nói “khoai” theo tiếng phổ thông thì người ngoài Bắc chỉ hiểu là khoai lang hoặc khoai tây mà thôi. Còn các loại củ ăn được thì kèm luôn tên gọi là “củ từ”, “củ mỡ”, “củ dong riềng”, “củ mài”, .... Còn tiếng Hà Tĩnh thì phân chia rõ ràng hơn. Cây gì có rễ phình to thì cái rễ đó được gọi là “cổ”. “Cổ” gì ăn được thì “cổ” đó được gọi là khoai. Rồi mới đến tên riêng và thành ra “cổ khoai từ”, “cổ khoai vạc” (củ mỡ), “cổ khoai đao” ( củ dong riềng), “cổ khoai mài” (củ mài).... “Thương chồng nấu cháo khoai mài...” (ca dao). Như vậy là “cổ” trở thành khái niệm chung, hay nói cách khác thành một loại quán từ ngang hàng với “con” “cái”... làm cho ngôn ngữ phong phú hơn, chính xác hơn, rõ nghĩa hơn. Cũng chính vì thế nên người Hà Tĩnh ít ai gọi “cổ lạc” (củ lạc) mà thường gọi là “trấy lạc” (trái lạc, quả lạc). Tương tự là từ “ló” (lúa) để rồi có ló kê, ló ré (lúa`tẻ), ló nếp, ló ngô (ngô).... hay “bù” để rồi phân biệt bù ta (bầu), bù rợ (bí đỏ)..... Chưa kể là qua cách gọi có tính chất phân loại lang lớp một cách khoa học này, ta còn có thể biết được ló ngô (ngô, bắp) không phải là loại ngũ cốc bản địa từ xưa mà sau này mới được di thực từ bên Ngô Tàu sang. Mà đúng là như vậy. Học giả Lê Quí Đôn trong tác phẩm “Vân Đài loại ngữ” cho biết: “Hồi đầu đời Khang Hi (1662 – 1723), Trần Thế Vinh, người huyện Tiên Phong, Sơn Tây, sang sứ nhà Thanh, mới lấy giống lúa ngô đem về nước”. Giá như nhà văn người Hà Tĩnh khá nổi tiếng nọ thấu hiểu hơn ngôn ngữ nơi chôn rau cắt rốn của mình thì sẽ không đến nỗi lại hạ bút tả cảnh phi ngựa giữa bãi ngô trong cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về Thăng Long ở thế kỷ XIII để cho nhiều độc giả, nhiều nhà phê bình lên tiếng phê phán gay gắt. Còn nữa. Bù rợ (bí đỏ) cũng xuất hiện trên mảnh đất Cửu Đức, mảnh đất Hà Tĩnh sau bù ta (bầu), mà qua tên gọi phải là từ một nước láng giềng nào đó ở phía Tây hoặc Tây Nam nước ta. Nhưng người ngoài Bắc lại gọi bí đỏ là bí ngô, tức là loại bí này có thể được di thực từ bên Trung Hoa sang. Khả năng thứ nhất chắc sẽ thuyết phục hơn, nhưng khả năng nào là đúng thì chỉ có các nhà khoa học nghiên cứu về các loại thực vật mới khẳng định được. Tuy vậy, “bù rợ” và “bí ngô’ cũng có khác nhau chút ít. Bí ngô có hình thù hơi dài hoặc hình cầu, còn “bù rợ” có hình thù hơi dẹt , tại chỗ cuống và trôn quả thường lõm vào.

Đấy là chưa kể rât nhiều tên gọi các lọai nông cụ, công cụ, các đồ dùng thường ngày… của phương ngữ Hà Tĩnh phong phú hơn nhiều và ít vay mượn các từ Hán - Việt hơn so với ngôn ngữ phổ thông. Các dụng cụ đan bằng tre nứa để đựng đồ vật là một ví dụ. Để chỉ đồ tre nứa đan thưa dùng để đựng các loại rau, củ, quả thì tiếng phổ thông chỉ có vài danh từ là “giành”, “rổ”, trong khi phương ngữ Hà Tĩnh nói riêng và của đất Việt Thường nói chung có rất nhiều danh từ để chỉ chúng tùy thuộc vào hình dáng, kích cỡ, sức chưá, mắt đan thưa hay mau, kiểu đan lồng mốt, lồng đôi hay lồng ba v.v. như “giành”, “ky”, “đúa”, “sảo”, “cạo” “rổ” v.v. Còn để chỉ các dụng cụ đan bằng tre nứa có mặt phẳng lớn hơn nhiều so với chiều cao của thành để chứa, đựng thì tiếng phổ thông chỉ có “nong, nia” chung chung, còn phương ngữ Hà Tĩnh lại phân ra cụ thể hơn như “vựa” (được đan ken dày, đường kính lớn trên dưới 1 mét, thành cao vài ba chục phân dùng để đặt ngay dưới cối xay lúa để nhận sản phẩm lúa đã xay nhưng chưa được sàng sảy hoặc dùng để chứa thóc lúa khi chưa được phơi khô, quạt sạch nên chưa được cất giữ vào bồ), “nôống” (gồm nôống nậy là cái nong lớn, nôống con có kích thước nhỏ hơn, nôống gấm dùng để sảy lúa, gạo, nôống sưa là cái nong được đan thưa dùng để phơi khoai, sắn cắt lát cho chóng khô), “ránh” cũng là nong đan thưa nhưng mắt lỗ bé hơn so với nôống sưa nhưng chỉ để dùng phơi cau đã bửa làm cau khô v.v. Từ cổ “vựa” chỉ một đồ đựng bằng tre đan nói trên về sau đã được sử dụng để chỉ những nơi chốn, những vùng và cả những khu vực rộng lớn với sản phẩm đặc trưng như “vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long”, “vựa trái cây miệt vườn Tiền Giang” v.v.

Xin được kể hơi cà kê một chút như vậy để thấy rằng cái mô tê răng rứa của tiếng địa phương Hà Tĩnh là một di sản văn hóa đậm đà bản sắc của ngôn ngữ Việt đáng được trân trọng, tìm hiểu và gìn giữ để không bị mai một trong quá trình “phổ thông hóa, toàn cầu hóa” làm ảnh hưởng đến sự phong phú đa dạng của văn hóa Việt.

Cái sự học trong các bậc phổ thông ngày càng phổ cập với mọi tầng lớp, thành quả của sự nghiệp giáo dục kể từ ngày đất nước độc lập, cũng như sự phổ cập của các phương tiện thông tin đại chúng đã không những giúp cho chỉ đối với những người Hà Tĩnh từng cắp sách đến trường, mà còn giúp cho mọi người dân Hà Tĩnh dù sống ở những vùng miền heo hút nhất đều sử dụng thành thục được tiếng Việt hiện đại trong mọi lĩnh vực. Tuy vậy, cũng chính vì thế mà ngày càng có nhiều người Hà Tĩnh biết rất ít vốn từ của ngôn ngữ địa phương mình, và do đó, nguy cơ mai một của phương ngữ Hà Tĩnh ngày càng rõ. Có những ngôn từ có thể nói là rất “đắt”, “độc nhất vô nhị” nhưng lại đang dần bị biến mất trong đời sống của chính người dân Hà Tĩnh. Ví dụ như động từ “trủ” chỉ công việc thu hái hàng loạt và bằng hết cùng một lúc các loại quả của những cây ăn quả (trủ vải, trủ nhãn, trủ cam...) hay danh từ “lặc lè” chỉ phần mặt sau của đầu gối (có thành ngữ “trục cúi đi mô lặc lè theo đó”, trục cúi chính là đầu gối) hay danh từ riêng “tấy” để chỉ con rái cá, còn gọi là hải ly, với câu thành ngữ “nghịch nhi tấy, khun nhi tấy” (nghịch như rái cá, khôn như rái cá) v.v và v.v

Do vậy, đã đến lúc cần tổ chức sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn một bộ Từ điển phương ngữ Hà Tĩnh nhằm gìn giữ và bảo tồn di sản này. Cùng với các di chỉ khảo cổ, các văn bia, các bằng sắc, các ấn phẩm v. v. thì ngôn ngữ địa phương, nhất là các ngôn ngữ cổ cũng là những chứng tích, những căn cứ khoa học vô cùng quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử nói riêng và các bộ môn khoa học xã hội nói chung.

                                                                               (Theo Tống Trần Tùng)


Tác giả: Đinh Thi Thu Huong
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay : 133
Tháng 12 : 541